Case lâm sàng về “thở nông”
Lý thị, nữ, 45 tuổi, phàn nàn chính là thở nông. Bệnh nhân tự nói hít vào chỉ được một nửa, không thể thở kiểu bụng được. Kèm theo đau lưng, khó chịu vùng lưng, mạch Tả Quan huyền mà vô lực, lưỡi nhạt rêu trắng. Bệnh nhân đã điều trị gián đoạn ở nơi khác hơn nửa năm mà hiệu quả không rõ rệt. Mời các bạn bàn luận về phương thuốc.
Nhận định của các danh y
Tống Vũ Hồng cho rằng:
Lý thị, nữ, 45 tuổi, thở nông, đau lưng, khó chịu vùng lưng, mạch Tả Quan huyền mà vô lực, lưỡi nhạt rêu trắng. Xin bàn luận về phương thuốc. 45 tuổi, Tả Quan huyền mà vô lực thuộc Quyết Âm, đau lưng thuộc Thiếu Âm, khó chịu vùng lưng thuộc Thái Dương. Lưỡi nhạt rêu trắng là do khí huyết hư. Ngoài ra không có biểu hiện khác. Dùng pháp bổ thận ích tinh, ôn dương bổ khí huyết, điều khí, dùng các vị như đương quy, kỷ tử, mạch đông, ngô thù du, đảng sâm, hoàng kỳ, cam thảo, trần bì, nhục quế, ma hoàng, thục địa, cát căn, can khương, lộc giác sương, dâm dương hoắc, khương hoạt, tang ký sinh, kê huyết đằng. Triệu chứng thở nông này có khả năng nghiêng về chứng thận bất nạp khí.
Đỗ Ngọc Kỳ đưa ra lý luận:
Đau lưng – thuộc Thiếu Âm
Khó chịu vùng lưng – “bắt độc” định vị huyệt Chí Dương – thuộc Thái Âm, do tỳ hư nên dùng nhân sâm
Mạch Tả Quan huyền mà vô lực – “bắt độc” – dùng Ô Mai Hoàn
Thở nông – có thể thuộc Thái Âm (kèm theo hay thở dài), cũng có thể thuộc Thiếu Âm (có tiền sử hen suyễn nhưng chưa phát)
Lưỡi nhạt rêu trắng – thuộc Thái Âm
Phương thuốc đề xuất – Ô Mai Hoàn
Chu Lệ Huệ trình bày:
Lý thị, nữ, 45 tuổi, thở nông, mạch Tả Quan huyền mà vô lực, lưỡi nhạt rêu trắng. Lưỡi nhạt, huyết hư → dùng bài Quy Kỳ Kiện Trung Thang. Thở nông, rêu trắng → đoản khí kèm đàm ẩm, phế khí Thái Âm hư hãm; điều trị phế hư, bổ khí, gia bán hạ ba lượng. Đau lưng (Thiếu Âm), khó chịu vùng lưng (Chí Dương hư Thái Âm kèm ẩm), Tả Quan thuộc can (Quyết Âm) → chứng ngoại của tam âm. Phương thuốc: Quy Kỳ Kiện Trung Thang + Đương Quy Tứ Nghịch gia Ngô Thù Du Sinh Khương Thang + Linh Quế Truật Cam Thang + bán hạ, sinh địa (tinh huyết đồng nguyên).
Cảnh Tuấn Hằng nhận định:
Đáp: Lý thị, nữ, 45 tuổi, thở nông, đau lưng, khó chịu vùng lưng, mạch Tả Quan huyền mà vô lực, lưỡi nhạt rêu trắng. Xin bàn luận về phương thuốc. Thở nông: phế khí Thái Âm hư; đau lưng: thận hư Thiếu Âm; khó chịu vùng lưng: Thái Âm hư; mạch Tả Quan huyền mà vô lực: chứng độc Quyết Âm; lưỡi nhạt rêu trắng: Thái Âm. Phương thuốc: bệnh liên quan đến Thái Âm, Thiếu Âm, Quyết Âm — tam âm tiến triển dần, bệnh thuộc Quyết Âm, lấy chứng đau cơ làm chủ, dùng bài Đương Quy Tứ Nghịch gia Ngô Thù Du Sinh Khương Thang.
Đáp án tham khảo:
Thang thuốc lần khám đầu:
Ô mai 30g, đương quy 15g, can khương 6g, xuyên tiêu 6g
Tế tân 3g, đảng sâm 15g, hoàng liên 3g, quế chi 15g
Phụ tử chế 3g (sắc trước), hoàng bá 15g, bạch truật sống 10g, cam thảo chích 6g
Hoài ngưu tất 15g, tang ký sinh 15g, đỗ trọng sao 15g, thanh bì 6g
Uống 5 thang, triệu chứng giảm rõ rệt.
Thang thuốc lần khám thứ hai:
Ô mai 40g, đương quy 15g, can khương 3g, xuyên tiêu 6g
Tế tân 3g, đảng sâm 10g, hoàng liên 3g, quế chi 9g
Phụ tử chế 3g (sắc trước), hoàng bá 15g, bạch truật sống 10g
Cam thảo sống 6g, hoài ngưu tất 15g, tang ký sinh 15g, đỗ trọng sao 15g
Thanh bì 6g, ý dĩ nhân sống 90g, bạch đậu khấu 6g (cho sau), trần bì 10g
Uống 8 thang thì khỏi hẳn.
Giải thích:
Bệnh nhân phàn nàn chính là thở nông. Thông thường, thở nông được cho là do phế khí Thái Âm hư, nhưng trong trường hợp này, bệnh đã tiến triển qua tam âm: kèm theo đau lưng là chứng Thiếu Âm, “bắt độc” thấy mạch Tả Quan huyền mà vô lực là chứng Quyết Âm. Bệnh đã nhập sâu Quyết Âm, “thà mất phương chứ đừng mất kinh”.
(1) Do đó chọn bài Quyết Âm – Ô Mai Hoàn làm căn bản gia giảm: xuyên tiêu ôn Quyết Âm (trong trường hợp thở nông này đã nhập sâu Quyết Âm; hít vào liên quan can thận, thở ra liên quan tâm phế; xuyên tiêu chứa chất tương tự adrenalin, kích thích thần kinh giao cảm, khiến hô hấp nhanh và sâu hơn); phụ tử, tế tân ôn Thiếu Âm; can khương, quế chi ôn Thái Âm; đảng sâm, đương quy bổ ích khí huyết; hoàng liên, hoàng bá thanh tâm hỏa và tướng hỏa, đồng thời chế ngự các dược liệu ôn.
(2) Gia thêm bạch truật, cam thảo, phối hợp với sâm, khương trong phương tạo thành Lý Trung Thang, ích khí ôn tỳ, bồi thổ sinh kim.
(3) Ngưu tất, tang ký sinh, đỗ trọng sao bổ mạnh kinh đốc, cường kiện vùng eo lưng.
(4) Thêm thanh bì sơ can lý khí.
Chứng thở nông ở bệnh nhân này có liên quan đến rối loạn chức năng thần kinh thực vật, hoạt tính giao cảm suy giảm. Bệnh nhân khó chịu vùng lưng, qua thăm khám sờ nắn thấy có rối loạn khớp nhỏ cột sống ngực, đoạn T1-L2 là vùng phân bố thần kinh giao cảm. Kết hợp điều trị chỉnh cột sống bên ngoài để kích thích thần kinh giao cảm, giúp tăng cường hiệu quả của thuốc.
Kết hợp trị liệu trong ngoài, chỉ sau 5 thang đã giảm mạnh. “Hiệu bất canh phương” – vẫn giữ nguyên phương cũ, lần khám thứ hai gia giảm thêm: xét thấy bệnh nhân có u nhú ở cổ, thường do virus gây ra, nên gia ý dĩ nhân lượng lớn để kháng virus, thanh hóa thấp nhiệt; bạch đậu khấu, trần bì hóa thấp lý khí.
Kết hợp chỉnh cột sống thêm một lần nữa. Uống 8 thang thì khỏi hẳn, hiệu quả được củng cố.
Tác giả: Phòng nghiên cứu Dưỡng Dương